Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Võ Thành Quang)
  • (Trợ giúp kỹ thuật)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Gg.jpg 10404393_727387380712972_4614398140044437414_n.jpg Bang_so_nguyen_to_nho_hon_1000jpg.jpg IMG_00033.jpg IMG_00253.jpg IMG_00032.jpg Cnbh.jpg IMG_0007.jpg IMG_00351.jpg Day_be_hoc_chu_cai.jpg Tinh_hinh_mu_chu.jpg Tinh_hinh_mu_chu.jpg Truydieu1.jpg Truydieu1.jpg Le_tang_5_KWLB1.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg Thieu_ta_Phu_Yen.jpg

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Phú Yên.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Tế Hanh – "Cánh buồm vôi" đi qua thế kỷ!

    Canh_buom_2.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: http://violet.vn/mydung_2008
    Người gửi: Nguyễn Thị Mỹ Dung
    Ngày gửi: 17h:46' 20-04-2011
    Dung lượng: 38.2 KB
    Số lượt tải: 1
    Mô tả:

    Những bài thơ viết về quê hương, đất nước, cũng như những bài thơ viết riêng về một làng quê đều tạo được ấn tượng tốt đẹp đối với những người yêu thơ. Cách đây gần 80 năm, trong phong trào thơ mới xuất hiện nhiều cây bút viết về làng quê Việt Nam. Và, họ đã thành danh. 80 năm qua, mỗi khi nhắc đến những bài thơ viết về cảnh làng quê miền Bắc, chúng ta đều nhớ đến những bài thơ của thi sĩ Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân... hay nhắc đến thôn Vĩ Dạ ở Huế, chúng ta nhớ đến bài thơ "Đây thôn Vỹ" của Hàn Mặc Tử. Nói đến Huế đẹp, Huế thơ, ta nhớ đến những bài thơ của thi sĩ Nam Trân. Và như thế, khi nói đến cảnh sinh hoạt của một làng chài ven biển, nhiều người trong chúng ta nhớ ngay đến bài thơ "Quê hương" của nhà thơ Tế Hanh:

    Làng tôi vốn làm nghề chài lưới:

    Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông

     Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,

    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:

    Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trùng giang.

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

    Dướn thân trắng bao la thâu góp gió... 

    Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về"

    Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe"

    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

    Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng

    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

    Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

    Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ 

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

    (Nghẹn ngào)

        Thơ về làng chài là một đề tài thật hiếm người viết. Có lẽ, Tế Hanh là người duy nhất viết về làng chài. Và, đã thành công với bài "Quê hương". Tế Hanh tên thật Trần Tế Hanh, sinh ngày 15/5/1921 ở làng Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Bài thơ "Quê hương" chính là cái làng chài Đông Yên thân thương của Tế Hanh.

        Sinh ra, lớn lên, gắn bó với quê hương – một làng chài thơ mộng nằm cuối dòng sông Trà hiền hòa. Tế Hanh đã tinh tế đưa vào thơ của mình hình ảnh sinh hoạt trong cuộc sống của quê hương: Cảnh tấp nập ghe thuyền cá đầy khoang trên bến đỗ, những con thuyền như tuấn mã căng cánh buồm vôi trắng bạc lộng gió trên biển xanh mênh mông như mảnh hồn làngcủa ngư phủ giữa sóng nước đại dương. Hình ảnh những con thuyền nằm im bến mỏi sau chuyến ra khơi... Và, cả cái mùi nồng mặn quá của một làng chài. Chính vì vậy, thơ Tế Hanh gần gũi, quen thân với người yêu thơ. 

       Từ tuổi 16, đôi mươi, với một tâm hồn nhạy cảm, đầy tha thiết, Tế Hanh chọn lọc những nét đặc trưng đưa vào thơ của mình một thế giới gần gũi với cuộc sống: Nỗi buồn vu vơ của tuổi học trò trước cảnh chia ly trên sân ga (Vu vơ), nỗi niềm của con đường làng (Lời con đường quê), tạo cho người đọc nghe lòng bâng khuâng, xao xuyến...

       Năm 21 tuổi, với thi phẩm "Nghẹn ngào" (Hoa Niên), Tế Hanh người con của làng chài Đông Yên đã vinh dự nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn (1939), khẳng định vị trí của mình trong phong trào thơ mới. Cũng từ đây, Tế Hanh gắn bó suốt cuộc đời mình với thi ca. Và, với bài thơ "Quê hương", Tế Hanh đã ghi dấu ấn rất riêng trong phong trào thơ mới. Bài thơ ra đời đến nay đã gần 80 năm, vẫn còn và mãi mãi hấp dẫn người yêu thơ. "Quê hương" của Tế Hanh như "cánh buồm vôi" vuợt trùng dương đã đi qua thế kỷ. 

       Trong cuộc hành trình với thơ ca, Tế Hanh đã xuất bản các tác phẩm chính: Nghẹn ngào(Hoa Niên – 1939), Lòng miền Nam (1956), Chuyện em bé cười ra đồng tiền (1960), Hai nửa yêu thương (1967), Khúc ca mới (1967), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê hương (1973),Theo nhịp tháng ngày (1974), Giữa những mùa xuân (1976), Con đường và dòng sông(1980), Bài ca sự sống, Tuyển tập Tế Hanh (Tập I – 1987), Thơ Tế Hanh (1989), Vườn xưa(1992), Giữa anh và em (1992), Em chờ anh (1993), Tuyển tập Tế Hanh (Tập II – 1997). 

       Suốt gần một đời, Tế Hanh viết nhiều thơ về quê hương, đất nước và chiến tranh. Thơ Tế Hanh có nét rất riêng, độc đáo, đằm thắm và sâu sắc, được người yêu thơ đồng cảm. Nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận định về Tế Hanh: "... Anh viết khá hay về biển, biển trong bão dữ. Nghĩ đến anh tôi nghĩ về cái êm đềm của những con sông. Anh có thể tả mùa hè rực rỡ, nhưng hình như anh xúc động nhất mùa thu... ".

       Cùng với những bài thơ hay viết về quê hương, đất nước, Tế Hanh còn viết nhiều về tình yêu. Thơ tình của Tế Hanh không có nét rạo rực, cháy bỏng, lãng mạn bay bổng như thơ Xuân Diệu, cũng không dằn vặt khổ đau như thơ của Vũ Hoàng Chương. Thơ tình của Tế Hanh thường gắn với hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống đời thường, thể hiện nỗi niềm đằm thắm, sâu kín tận đáy lòng: 

    "Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh

    Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc

    Hai ta ở hai đầu công tác

    Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa? 

    Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa

    Như mặt trăng mặt trời cách trở

    Như sao Hôm sao Mai không cùng ở

    Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa? 

    Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu

    Như tháng mười hồng, tháng năm nhãn

    Em theo chim em đi về tháng tám

    Anh theo chim cùng với tháng ba qua 

    Một ngày xuân em trở lại nhà

    Nghe mẹ nói anh có về hái ổi

    Em nhìn lên vòm cây gió thổi

    Lá như môi thầm thỉ gọi anh về 

    Lần sau anh trở lại một ngày hè

    Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt

    Anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt

    Nước như gương soi lẻ bóng hình anh 

    Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh

    Tóc mẹ già mỗi ngày mỗi bạc

    Hai ta ở hai đầu công tác

    Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa? 

    (1957)

        Bài thơ "Vườn xưa" nói về nỗi niềm xa cách của đôi tình nhân trong hoàn cảnh ở hai đầu công tác. Ở đây, chúng ta bắt gặp nỗi cô đơn, nhớ nhung của nhiều người có chung một hoàn cảnh.

    "Bài thơ tình ở Hàng Châu" Tế Hanh viết từ năm 1956, có lẽ đây là một trong những bài thơ tình hay nhất của Tế Hanh. Những điều tưởng chừng bình thường, giản dị, qua thơ của Tế Hanh bỗng nhiên sâu sắc vô cùng, làm lay động tâm hồn nhiều người:

     Anh xa nước nên yêu thêm nước

    Anh xa em càng nhớ thêm em

    Trăng Tây Hồ vời vợi thâu đêm

    Trời Hàng Châu bốn bề êm ái

    Mùa thu đã đi qua còn gửi lại

    Một ít vàng trong nắng trong cây

    Một ít buồn trong gió trong mây

    Một ít vui trên môi người thiếu nữ... 

    Anh đã đến những nơi lịch sử

    Đường Tô Đông Pha làm phú

    Đường Bạch Cư Dị đề thơ

    Hồn người xưa vương vấn tự bao giờ

    Còn thao thức trên cành đào ngọn liễu

    Phong cảnh đẹp nhưng lòng anh thấy thiếu

    Bức tranh kia anh muốn điểm thêm màu

    Có hai ta cùng tựa bên cầu

    Cho mặt nước Tây Hồ trong sáng nữa

    Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa

    Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa

    Làn nước qua ánh mắt ai đưa

    Cơn gió đến bàn tay em vẫy

    Chúng mình yêu nhau từ độ ấy

    Có núi sông và có trăng sao

    Có giận hờn và có chiêm bao

    Cay đắng ngọt bùi cuộc đời kháng chiến

    Nói sao hết em ơi bao kỷ niệm... 

    Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui

    Những ngày vui sao lại thấy ngùi ngùi

    Anh không muốn hỏi nhiều quá khứ

    Ngày đẹp nhất là ngày rồi gặp gỡ

    Rời Tây Hồ trăng xuống Bắc Cao Phong (*)

    Chỉ mình anh với im lặng trong phòng

    Anh ngước nhìn bức thêu trên vách:

    Hai bóng người đimột hàng tùng bách

    Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh? 

    Tiếng mùa xuân đem sóng vỗ bên mình

    Vơ vẩn tình chănchập chờn mộng gối

    Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội

    Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây

    Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.

     (1956)

    (*) Một dãy núi ở Hàng Châu – Trung Quốc 

        Cũng như những nhà thơ cùng thời: Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh, Chế Lan Viên, Huy Cận, nhà thơ Tế Hanh còn dịch thơ tiếng Pháp. Đây cũng là mảng đề tài, công việc trong sự nghiệp sáng tác, dịch thuật của ông. Tế Hanh dịch thơ của những nhà thơ lớn của Nga, Pháp, Đức... như: Pushkin, J. Ritos, Hugo, Aragong, Eluard, René Char, S. Petofi, B. Brecht... ra tiếng Việt. Những bài thơ do Tế Hanh chuyển ngữ từ Pháp ra Việt rất tài hoa, tinh tế, đầy chất thơ, giữ được cái hồn của các tác giả đã chinh phục bao thế hệ người yêu thơ. Và, giúp cho người đọc tiếp xúc với văn hóa thế giới. Từ bài thơ đầu tiên "Lời con đường quê" đến nay Tế Hanh đã đồng hành cùng thi ca gần 80 năm, đi qua thế kỷ. Ông đã có những đóng góp nhất định vào nền thi ca hiện đại. Năm 1996, Tế Hanh được tặng giải thường Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Mã Giang Lân – nhà nghiên cứu phê bình văn học đã nhận xét về thơ Tế Hanh một cách ngắn gọn, nhưng rất đầy đủ và chính xác: "Thơ Tế Hanh giản dị, trong sáng, tinh tế mà đậm tình đất nước...". Tế Hanh đã thực sự trở thành một trong những cây đại thụ trong nền thi ca đương đại Việt Nam./.

     Lê Ngọc Trác


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến