Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Võ Thành Quang)
  • (Trợ giúp kỹ thuật)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Gg.jpg 10404393_727387380712972_4614398140044437414_n.jpg Bang_so_nguyen_to_nho_hon_1000jpg.jpg IMG_00033.jpg IMG_00253.jpg IMG_00032.jpg Cnbh.jpg IMG_0007.jpg IMG_00351.jpg Day_be_hoc_chu_cai.jpg Tinh_hinh_mu_chu.jpg Tinh_hinh_mu_chu.jpg Truydieu1.jpg Truydieu1.jpg Le_tang_5_KWLB1.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg Thieu_ta_Phu_Yen.jpg

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Phú Yên.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Đề thi chọn HSG

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Thông
    Ngày gửi: 15h:40' 22-01-2024
    Dung lượng: 492.6 KB
    Số lượt tải: 15
    Số lượt thích: 0 người
    SỞ GD-ĐT BÌNH PHƯỚC

    KỲ THI OLYMPIC LỚP 11 THPT
    Năm học: 2022– 2023

    Môn thi: NGỮ VĂN
    Thời gian:150 phút (không kể thời gian giao đề)

    Câu 1 (8,0 điểm):
    NHỮNG VẾT ĐINH
    Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho
    cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy
    ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ”. Ngày đầu tiên, cậu bé
    đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm
    chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít
    đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng một
    cây đinh lên hàng rào. Đến một ngày, cậu bé đã không nổi giận một lần nào
    trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau
    mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ cây đinh ra
    khỏi hàng rào”. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui
    mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cây đinh nào trên
    hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu:
    “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng
    rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi...”
    (Theo http://www.songdep.vn)
    Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình sau khi đọc mẩu chuyện trên.
    Câu 2 (12,0 điểm).
    Nói về cái “Tôi” trong phong trào thơ 1930- 1945, có ý kiến cho rằng “ Cái tôi
    trong thơ Xuân Diệu gắn liền với cái tôi cá nhân, còn cái tôi trong thơ Tố Hữu
    lại gắn liền với cái Ta của ý thức cộng đồng”. Qua bài thơ Vội Vàng của Xuân
    Diệu và Từ Ấy của Tố Hữu trong chương trình Ngữ Văn lớp 11, em hãy làm
    sáng tỏ nhận định trên.
    ----------Hết----------

    SỞ GD&ĐT BÌNH PHƯỚC

    HƯỚNG DẪN CHẤM

    ĐỀ THI OLYMPIC NĂM HỌC 2022-2023
    MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
    Câu 1: (8,0 điểm)
    1. Yêu cầu về kĩ năng:
    Biết làm một bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí được gửi gắm trong một
    mẩu chuyện với các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
    Diễn đạt tốt, ngôn ngữ chọn lọc, không mắc lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp và
    chính tả; dẫn chứng sinh động.
    2. Yêu cầu về kiến thức và cách cho điểm
    - Có thể có nhiều cách trình bày nhưng bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản
    trong Hướng dẫn chấm.
    Nội dung
    * Giới thiệu về mẩu chuyện và nêu khái quát vấn đề cần nghị luận
    * Dựa vào nội dung mẩu chuyện, rút ra những vấn đề cần suy ngẫm:
    - Khi nóng giận, con người thường gây tổn thương cho người khác và để lại
    dấu ấn không tốt lâu dài.
    - Con người cần biết kiềm chế và có thể kiềm chế được những cơn nóng
    giận của bản thân.
    * Bình luận, chứng minh:
    - Câu chuyện là bài học sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc
    sống.
    + Khi nóng giận, con người sẽ không có đủ bình tĩnh, tỉnh táo để làm chủ lời
    nói, hành động của mình. Những lời nói, hành động ấy sẽ giống như mũi
    đinh nhọn đóng vào tâm hồn người khác khiến họ đau đớn, tổn thương. Ấn
    tượng ấy không dễ gì mất đi.
    + Nóng giận là nhược điểm của không ít người trong cuộc sống. Nhiều
    người vì nóng giận mà gây ra những hậu quả khôn lường với người khác và
    bản thân (Lấy dẫn chứng).
    + Nếu kiên trì, nỗ lực, tự rèn luyện, con người sẽ kiềm chế được những cơn
    nóng giận.
    + Kiềm chế sự nóng giận sẽ khiến tâm hồn mình được thanh thản và mối
    quan hệ của con người trở nên tốt đẹp hơn.

    Điểm
    0,5 điểm
    0.75 điểm
    0,75 điểm

    1,0 điểm

    1,0 điểm
    1.0 điểm
    1.0 điểm

    * Rút ra bài học, phương hướng hành động:
    2.0 điểm
    + Không ngừng rèn luyện để kiềm chế sự nóng nảy của bản thân
    + Xây dựng những thói quen tốt trong ứng xử, giao tiếp.
    - Những bài làm có hướng đi khác nhưng phù hợp, thuyết phục vẫn chấp nhận

    Câu 2 (12,0 điểm)
    I.Yêu cầu về kĩ năng
    Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
    làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn
    viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
    II.Yêu cầu về kiến thức
    Thí sinh phải làm rõ cái “Tôi” trong phong trào thơ mới là gắn với cái “Tôi cá
    nhân”, còn cái “Tôi” trong thơ ca cách mạnh là gắn liền với cái “Ta” ý thức
    cộng đồng, qua đó làm rõ sự khác biệt giữa cái “Tôi” trong thơ mới và cái “Tôi”
    trong thơ ca cách mạng, HS lấy hai bài Vội Vàng của Xuân Diệu và Từ Ấy của
    Tố Hữu để làm sáng tỏ nhận định trên. Thí sinh có thể trình bày theo các cách
    khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý sau:
    1.Giải thích:
    - Cái tôi trong thơ mới: là cái tôi gắn liền với ý thức cá nhân..
    - Cái tôi trong thơ ca cách mạng không phải là cái tôi cá nhân mà thực chất là
    cái Ta gắn liền với ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc.
    - Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu là tác phẩm tiêu biểu cho cái tôi cá nhân,
    Bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu là tác phẩm tiêu biểu cho cái Tôi gắn liền với ý thức
    cộng đồng “ Ta”.
    2. Làm sáng tỏ nhận định qua tác phẩm Vội Vàng của Xuân Diệu và
    Tác Phẩm Từ Ấy của Tố Hữu:
    2.1 Cái tôi trong thơ Xuân Diệu:
    * Phân tích cái tôi trữ tình trong Vội vàng
    * Khái quát về cái tôi trong thơ mới
    - Cái tôi theo nghĩa xưa, tức là sự độc lập nhỏ lẻ bó buộc cá nhân
    - Cái tôi trong văn học: văn học trung đại là nền văn học phi ngã, ở đó cái tôi
    của tác giả bị triệt tiêu hoặc giấu đi thì văn học hiện đại mà tiêu biểu là sự xuất
    hiện của phong trào thơ mới là nơi cái tôi của người nghệ sĩ được bộc lộ sắc nét
    và rõ ràng nhất.
    - Ở phong trào thơ mới, ý thức về cái tôi cá nhân trở nên hết sức mạnh mẽ, đó là
    sự bung nở của mỗi hồn thơ, mỗi một cảm xúc riêng biệt.
    - Thậm chí trong văn học hiện đại, mỗi người nghệ sĩ còn tự tạo cho mình một
    cái tôi, một phong cách riêng biệt.
    => Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, có một cái tôi, một
    "chất" riêng vô cùng độc đáo.
    * Phân tích cái tôi trữ tình trong Vội vàng
    - Một cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ: ham sống, yêu đời, khát vọng
    sống
    + Điệp từ “tôi muốn”
    + Hành động “tắt nắng”, “buộc gió”
    => Cái tôi Xuân Diệu tỏ ra khát kháo muốn được "tắt nắng", "buộc gió" để giữ
    lại màu, lại sắc, lại hương cho cuộc đời.

    - Một cái tôi tràn đầy cảm xúc mãnh liệt, đắm say trong vẻ đẹp đất trời
    + Hình ảnh "ong bướm", "tuần tháng mật", "đồng nội xanh rì", "yến anh".
    + Phép điệp "này đây".
    + So sánh "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần".
    => Vẻ đẹp khiến người ta đắm say như đang kết cặp đầy tình ái.
    + Cái tôi trữ tình không thể giấu cái cảm giác sung sướng khi thốt lên:
    Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa
    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
    - Một cái tôi mới mẻ về quan niệm thẩm mĩ, thời gian và tuổi trẻ.
    + Điệp từ "nghĩa là"
    + Từ đối: "tới - qua", "non - già", "rộng - chật"
    + Thời gian có sức mạnh khiến vạt vật thay đổi, khiến cái tôi có thể ngửi được
    cả mùi tháng năm, nghe được nùi sống than thầm, cơn gió thì thào....
    + Cái lo lắng, sợ hãi của cánh chim kia phải chăng chính là nỗi lo lắng, sợ hãi
    của chính cái tôi trữ tình trước "độ phai tàn" của thời gian và tuổi trẻ.
    - Một cái tôi với quan niệm nhân sinh mới mẻ
    + Điệp từ "ta muốn" được lặp lại nhiều lần.
    + Động từ mạnh theo cấp độ tăng tiến "ôm" - "riết" - "say" - "thâu".
    -> Cái khao khát được thưởng thức cảnh vật, để hưởng thụ cho hết mọi vẻ đẹp
    hạnh phúc của trần gian từ đó chính là cách tận hưởng tuổi trẻ, hạnh phúc và
    tình yêu của cái tôi trữ tình.
    2.2. Cái Tôi gắn liền với ý thức cộng đồng, dân tộc trong thơ ca cách mạng
    mà bài thơ Từ ấy là ví dụ điển hình:
    * Cái tôi gắn liền vơi mọi người (Nhân dân, cộng đồng dân tộc), với trăm nơi (
    Đất nước), với bao hồn khổ ( Những cảnh đời lầm than), mạnh khối đời...
    * Cái tôi gắn liền với Vạn nhà ( nhân dân), vạn kiếp phôi pha ( những kiếp
    người mòn mỏi đáng thương), vạn đầu em nhỏ, không áo cơm cù bất cù bơ ...
    => Cái tôi trong thơ tố Hữu gắn liền với ý thức cộng đồng, gắn liền với dân với
    nước, với chủ nghĩa cộng sản.
    "Từ ấy" là bài thơ rút trong tập thơ cùng tên sáng tác năm 1938, đánh dấu sự
    trưởng thành của người thanh niên cách mạng. Từ ấy chính là tiếng reo vui của
    người chiến sĩ say mê lí tưởng, yêu nước, yêu cuộc đời nguyện hiến dâng tuổi
    xuân cho quê hương đất nước. Qua bài thơ Từ ấy, Tố Hữu đã cho người đọc
    cảm nhận được niềm vui to lớn và niềm xúc động thiêng liêng của người thanh
    niên yêu nước khi giác ngộ lí tưởng cách mạng.
    * Tâm trạng vui sướng của nhân vật trữ tình khi bắt gặp lý tưởng cộng sản
    - Thời điểm “Từ ấy”: là khi Tố Hữu được giác ngộ Cách Mạng, được dẫn dắt
    vào con đường giải phóng dân tộc
    - Hình ảnh ẩn dụ: “nắng hạ”, “mặt trời chân lý” => thể hiện niềm vui khi tìm
    thấy lẽ sống cao đẹp cho cuộc đời trong buổi đầu đến với Cách Mạng
    - Từ ngữ: “chói”, “bừng”, “rộn”, “rất đậm” => khẳng định lý tưởng cộng sản mở
    ra cho thế giới tâm hồn một nhận thức mới khiến tâm hồn vui tươi phơi phới

    => Khổ thơ là tiếng reo vui đầy phấn trấn của tác giả khi được giác ngộ lý tưởng
    cộng sản
    * Lý tưởng cộng sản làm thay đổi nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình
    - Đại từ nhân xưng “tôi”: bộc lộ sâu sắc ý thức cá nhân
    - Từ “buộc”, “trang trải”: thể hiện sự gắn kết, chia sẻ của nhà thơ với quần
    chúng cần lao
    - Các từ “Mọi người”, “trăm nơi”, “hồn khổ”: chỉ đối tượng là quần chúng lao
    khổ trên mọi miền đất nước
    - Hình ảnh ẩn dụ “khối đời”: khiến khái niệm về cuộc đời vốn trừu tượng trở nên
    hữu hình
    => Khổ thơ là sự gắn kết của cái tôi cá nhân với cái ta cộng đồng. Khi cái tôi
    hòa vào cái ta chung sẽ tạo nên một cuộc đời gắn bó, tạo nên một sức mạnh lớn
    lao.
    * Lý tưởng cộng sản giúp nhà thơ vượt qua những tình cảm ích kỉ, hẹp hòi để có
    được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ
    - Kết cấu định nghĩa “tôi…là” được sử dụng xuyên suốt khổ thơ tạo nhịp điệu
    khỏe khoắn, nhấn mạnh ý thức vững vàng của nhà thơ khi gắn kết với cộng đồng
    - Điệp từ “của” kết hợp với hệ thống từ xưng hô chỉ quan hệ máu mủ “anh”,
    “em”, “con”: tình cảm của nhà thơ với quần chúng nhân dân gần gũi, khăng khít
    như anh em ruột thịt
    - Điệp từ “vạn” kết hợp với các hình ảnh “vạn nhà”, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn
    đầu em nhỏ”: thể hiện những số phận cơ cực, vất cả, nhỏ bé trong xã hội. Từ đó
    nói lên tình nhân ái bao la, mang tính giai cấp
    => Tố Hữu tự nguyện chọn một chỗ đứng trong lòng dân tộc, coi mình là một
    thành viên ruột thịt trong gia đình quần chúng cần lao => thể hiện tinh thần dân
    tộc, tính nhân đạo sâu sắc
    * Nội dung, nghệ thuật của bài thơ
    - Giá trị nghệ thuật:
    + Sử dụng những hình ảnh ẩn dụ, so sánh đặc sắc
    + Nhịp điệu thơ dồn dập, da diết
    + Diễn tả tâm trạng vui sướng, say mê của nhà thơ khi đón nhận lý tưởng cộng
    sản
    - Giá trị nội dung:
    + “Từ ấy” là bản tuyên ngôn về nhận thức và quan điểm sáng tác của Tố Hữu
    + Tuyên ngôn về nhận thức: nhà thơ nguyện đi theo ánh sáng của Đảng, gắn bó
    với quần chúng lao khổ
    + Tuyên ngôn về nghệ thuật: sáng tạo văn học không mơ mộng, viển vông,
    người nghệ sĩ phải đứng trong hàng ngũ, gần gũi với quần chúng nhân dân.
    + Từ đây, Tố Hữu chính thức định hình phong cách của một ngòi bút trữ tình
    chính trị.
    3. Đánh giá:
    - Cái tôi trữ tình trong Vội vàng dễ khiến chúng ta liên tưởng đến cái tôi
    nói chung trong thơ mới. Luôn yêu cuộc đời đến cháy bỏng, thiết tha nhưng vẫn
    buồn bã, suy tư và đầy bế tắc.

    - Cái tôi trữ tình trong bài thơ Từ Ấy đã hòa nhập với cái "ta" chung của
    cộng đồng, của dân tộc, lời thơ của Tố Hữu chính là đại diện cho tình cảm của
    cả một thế hệ cán bộ chiến sĩ từng gắn bó với nhân dân, gần dân, hiểu dân là
    máu mủ ruột rà của nhân dân..đó là cái tôi vui tươi phấn khởi của người thi sĩ đã
    tìm thấy lý tưởng của đời mình.
    III. Biểu điểm:
    - Điểm 10-12,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong
    sáng. Bài viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng.
    - Điểm 7-9: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng
    diễn đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
    - Điểm 4-6: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân
    tích được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
    - Điểm 1-3: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
    - Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
    * Lưu ý:
    - Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
    quát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có
    những suy nghĩ sáng tạo.
    - Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai
    lệch với tổng điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ
    được làm tròn đến 0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
    ----------Hết----------

    SỞ GD&ĐT BÌNH PHƯỚC
    MA TRẬN
    ĐỀ THI OLYMPIC NĂM HỌC 2022-2023
    MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
    Thời gian :150 phút (không kể giao đề)
    Mức độ
    Chủ
    đề

    Nhận biết

    Kiểu bài
    1. Làm
    Nghị luận
    văn: nghị
    luận xã hội về một vấn
    đề xã hội
    bàn về lối
    sống.
    Số câu
    0,5 điểm
    Số điểm
    Nhận biết
    2. Làm

    Thông hiểu Vận dụng
    thấp

    Vận dụng
    cao

    Các khái
    niệm liên
    quan đến
    vấn đề nghị
    luận.

    Vận dụng
    rút ra bài
    học cho
    cuộc sống
    và bản thân

    1,5 điểm
    Hiểu vấn

    Huy động
    kiến thức
    về đời sống
    xã hội làm
    rõ vấn đề.
    4.0 điểm
    Vận dụng

    2,0 điểm
    Có những

    Cộng

    1 câu
    8,0 điểm

    văn: nghị
    luận văn
    học

    Số Câu:
    Số điểm:

    được kiểu
    bài phân
    tích ,so
    sánh vấn đề
    văn học

    đề nghị
    luận. Các
    khái niệm
    liên quan
    đến vấn đề
    nghị luận.
    Hiểu về tác
    giả, tác
    phẩm.

    1,0 điểm

    1,0 điểm

    2,0 điểm

    2,5 điểm

    kiến thức,
    kĩ năng để
    làm bài
    nghị luận

    liên tưởng
    thú vị, sự lí
    giải thấu
    đáo, văn
    viết có cảm
    xúc.

    8,0 điểm

    2,0 điểm

    11,5 điểm

    4,0 điểm

    1 câu
    12 điểm
    2 câu
    20,0 điểm
     
    Gửi ý kiến