Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Võ Thành Quang)
  • (Trợ giúp kỹ thuật)

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Gg.jpg 10404393_727387380712972_4614398140044437414_n.jpg Bang_so_nguyen_to_nho_hon_1000jpg.jpg IMG_00033.jpg IMG_00253.jpg IMG_00032.jpg Cnbh.jpg IMG_0007.jpg IMG_00351.jpg Day_be_hoc_chu_cai.jpg Tinh_hinh_mu_chu.jpg Tinh_hinh_mu_chu.jpg Truydieu1.jpg Truydieu1.jpg Le_tang_5_KWLB1.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg Thieu_ta_Phu_Yen.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Phú Yên.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Đề thi học kì 2

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lục Tiến Dũng (trang riêng)
    Ngày gửi: 21h:01' 08-08-2024
    Dung lượng: 43.3 KB
    Số lượt tải: 35
    Số lượt thích: 0 người
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    THANH HOÁ
    TRƯỜNG THPT CẦM BÁ THƯỚC
    (Đề gồm có 02 trang)

    ĐỀ THI HỌC CUỐI HỌC KÌ 2
    Năm học 2023 - 2024
    Môn: Ngữ văn (lớp 11)
    Thời gian làm bài: 90 phút

    I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
    Đọc truyện ngắn sau:
    CHUYỆN CỔ TÍCH
    Đêm mùa đông. Rét. Buốt. Tuyết rơi trắng trời, trắng đất. Trong nhà đèn đã tắt hết.
    Gió cứ rít lên từng hồi, nóc nhà như muốn bật tung ra, cửa sổ rung lên phần phật. Xa xa
    tiếng rừng gào thét.
    Hình như chưa ai ngủ cả. Đứa trẻ cũng đã thức giấc, nằm im lặng, căng mắt nhìn vào
    bóng đêm, nghe ngóng.
    Từ một nơi rất xa, từ bóng đêm và bão tuyết vọng lại một tiếng kêu cứu khắc khoải,
    não nề. Tiếng kêu ngân lên từng hồi rồi lắng xuống, lúc nghe rõ mồn một, lúc văng vẳng
    mơ hồ.
    Có người đang kêu cứu - người đàn ông lo lắng.
    Trong nhà vẫn im phăng phắc.
    - Đấy bà có nghe thấy không. Có người đang gặp nạn - người đàn ông ngồi bật dậy.
    - Ngủ đi - tiếng người vợ khàn khàn - gió rít đấy.
    Không, nhất định là có người gặp nạn trong rừng.
    - Tôi đã bảo ông đấy là gió mà. Khe khẽ cái mồm chứ, ông đánh thức con bé dậy bây
    giờ.
    - Con có ngủ đâu. Con cũng nghe thấy tiếng người kêu cứu - đứa bé nhỏm dậy.
    Bão tuyết tạm ngừng giây lát, tiếng người kêu trong đêm nghe rõ mồn một như rạch
    vào màn đêm một vết khía.
    Cứu tôi với ...! Cứu tôi với ...!
    - Mẹ ơi, hay là ai đó gặp bọn cướp? Hay là…
    - Không có hay là gì hết, ngủ đi - tiếng người đàn bà giận dữ- chó sói đấy. Con mà
    không ngủ là nó sẽ ăn thịt con đấy.
    ... Cứu tôi với ...! Cứu tôi với ...!
    - Thật tội nghiệp... - người chồng chép miệng - giá mà khẩu súng săn của tôi không bị
    hỏng thì...
    - Ngủ đi, đồ hâm. Không phải việc của ông người vợ càu nhàu.
    Có tiếng guốc dép loẹt xoẹt và tiếng ho khan ngoài hành lang. Đó là ông ngoại của
    đứa trẻ.

    - Đêm hôm khuya khoắt sao không ngủ đi mà lại làm ầm lên thế. Làm gì có ai dại gì
    vào rừng lúc đêm mưa và bão tuyết kia chứ? Giờ này tất cả mọi người đều ở trong chăn ấm
    từ lâu rồi. Các người cũng ngủ đi, và cám ơn Chúa vì Người đã ban cho chúng ta nhà cao,
    tường vững và những con chó hung dữ. Hãy kể chuyện cổ tích cho con bé nghe rồi cho nó
    ngủ đi! - giọng người ông đầy giận giữ.
    Người đàn bà bế đứa bé vào lòng và thì thầm kể chuyện:
    "Ngày xửa ngày xưa trên một hòn đảo nhỏ giữa đại dương bao la có những con người
    khỏe mạnh, giàu có và kiêu hãnh. Họ có tất cả mọi thứ đẹp nhất, đắt nhất và cuộc sống họ
    thật sung túc và thịnh vượng. Những người hàng xóm vừa sợ, vừa nể, vừa căm ghét họ vì
    họ không biết sợ bất cứ ai, họ khinh bỉ tất cả mọi người và chỉ yêu một mình bản thân họ.
    Chảy trong huyết mạch của họ không phải là dòng máu thường mà là một dòng máu màu
    xanh lục...
    ... Cứu tôi với ...! Cứu tôi với ...!
    Im lặng.
    ( A.I. Kuprin1, Hà Việt Anh dịch, )
    Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
    Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản
    trên.
    Câu 2. (0,5 điểm) Xác định bối cảnh diễn ra câu chuyện được kể trong truyện ngắn
    trên.
    Câu 3. (1,0 điểm) Những phản ứng trái ngược của các nhân vật trước tiếng kêu cứu
    trong đêm bão tuyết phản ánh điều gì trong thái độ và tình cảm của mỗi nhân vật?
    Câu 4. (1,0 điểm) Theo anh/ chị, kết thúc của truyện ngắn trên có gì khác so với kết
    thúc thông thường của một truyện cổ tích truyền thống? Cách kết thúc như vậy gợi cho anh/
    chị những suy nghĩ gì?
    Câu 5. (1,0 điểm) Từ hiểu biết của anh/ chị về đặc điểm của truyện cổ tích và cảm
    nhận về nội dung truyện ngắn trên, hãy nhận xét về nhan đề Chuyện cổ tích.
    II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
    Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của mình về câu tục ngữ sau
    của người Nhật Bản: “Bảy lần vấp ngã, tám lần đứng dậy”.
    ===== HẾT =====

    1

    Aleksandr Kuprin, được mệnh danh là nhà văn của người dân thường, có vị trí rất đặc biệt trong lòng độc giả Nga. Nhiều
    nhà nghiên cứu vẫn cho rằng, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc và là học trò của Liev Tolstoi và Anton Chekhov. Trong gần 40
    năm sáng tác, ông để lại gần 300 tác phẩm, trong đó có những tác phẩm đã trở thành kinh điển.

    ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
    I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
    Câu 1 (0,5 điểm)
    Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
    Câu 2 (0,5 điểm)
    - Không gian: (0,25 điểm)
    + Căn nhà an toàn, ấm áp.
    + Ngoài trời, bão tuyết gào rú.
    - Thời gian: mùa đông lạnh giá vào lúc đêm khuya. (0,25 điểm)
    Lưu ý: Câu này, nếu học sinh hiểu là bối cảnh của câu chuyện mà người mẹ kể cho
    đứa con nghe vẫn được điểm tối đa nếu liệt kê đủ các yếu tố.
    Câu 3 (1,0 điểm)
    - Người đàn ông: Lo lắng, muốn cứu người gặp nạn nhưng không quyết đoán.
    - Người vợ: Thờ ơ, ích kỷ, không muốn chồng mạo hiểm để giúp người bị nạn.
    - Đứa trẻ: Tò mò, thương cảm, quan tâm tới việc có người bị nạn.
    - Ông ngoại: Giận dữ, phủ nhận việc có người kêu cứu, kiêu hãnh vì được sống trong
    một không gian an toàn, ấm áp.
    Câu 4 (1,0 điểm)
    - So sánh: Nếu kết thúc truyện cổ tích là một kết thúc có hậu, khi mọi vấn đề đều
    được giải quyết ổn thoả và tốt đẹp thì kết thúc của truyện ngắn trên là một kết thúc mở. Đáp
    lại tiếng kêu cứu khắc khoải, tuyệt vọng là sự im lặng đầy ám ảnh. Truyện kết thúc mà
    không có hành động “cổ tích” nào. (0,5 điểm)
    - Gợi suy nghĩ (0,5 điểm)
    + Kết thúc của truyện gợi cái phũ phàng, tàn nhẫn của hiện thực.
    + Có một khoảng cách xa vời giữa những lí tưởng đẹp đẽ, lãng mạn với cái nghiệt
    ngã của đời sống.
    Câu 5 (1,0 điểm)
    - Nhan đề truyện chứa đựng sự đối lập ngầm có ý nghĩa mỉa mai, phê phán. (0,75
    điểm)
    + "Chuyện cổ tích": gợi sự kỳ diệu, tốt đẹp.
    + Nội dung: phản ánh thực tế cuộc sống với những con người ích kỷ, vô cảm.
    - Nhấn mạnh sự khác biệt, tạo hiệu ứng bất ngờ, lay động suy nghĩ của người đọc.
    (0,25 điểm)
    II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
    1. Yêu cầu chung
    - Đảm bảo bố cục của bài văn nghị luận
    - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, vận dụng linh hoạt các thao tác giải thích, lí giải,
    bình luận
    - Diễn dạt mạch lạc, đảm bảo các yêu cầu về sử dụng tiếng Việt
    - Dẫn chứng phù hợp
    - Có tính sáng tạo: dẫn chứng mới mẻ, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo trong cách giải thích và
    phân tích vấn đề.
    2. Yêu cầu cụ thể

    2. 1. Giải thích vấn đề:
    - Giới thiệu câu tục ngữ " Bảy lần vấp ngã, tám lần đứng dậy " của người Nhật.

    - Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ:
    + "Vấp ngã": Biểu tượng cho những thất bại, khó khăn trong cuộc sống.
    + "Đứng dậy": Biểu tượng cho hành động khắc phục khó khăn, không nản lòng sau
    thất bại. Vấp ngã nhưng không gục ngã.
    + Số "bảy" và "tám": Mang ý nghĩa tượng trưng, số lần đứng dậy nhiều hơn số lần
    vấp ngã có tác dụng khẳng định sự kiên trì nỗ lực để vượt qua những khó khăn, thất bại.
    2. 2. Lí giải vấn đề:
    - Tại sao cần kiên trì, nỗ lực khi gặp khó khăn, thất bại:
    + Trong cuộc sống, thất bại (vấp ngã) là điều không thể tránh khỏi
    + Trong cuộc sống luôn có những điều vượt quá khả năng hiện tại của bản thân.
    + Những biến đổi của ngoại cảnh có thể khiến kế hoạch ban đầu bị đổ vỡ
    + Sự chủ quan và những sai lầm cá nhân dẫn tới thất bại.
    - Vai trò của kiên trì, nỗ lực trước khó khăn, thất bại:
    + Kiên trì, nỗ lực giúp ta từng bước cải thiện năng lực, phá vỡ giới hạn bản thân để
    vượt qua những chướng ngại, khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
    + Kiên trì, nỗ lực giúp ta rút ra những bài học kinh nghiệm để sai lầm không lặp lại.
    + Kiên trì, nỗ lực giúp ta có cơ hội tìm kiếm và thử nghiệm nhiều giải pháp khác
    nhau để tìm ra “công thức” thành công.
    + Kiên trì, nỗ lực để chờ đợi thời cơ thuận lợi, chín muồi.
    - Dẫn chứng minh họa: những người liên tiếp thất bại nhưng không gục ngã vẫn
    quyết chí làm lại hết lần này đến lần khác để thành công.
    2. 3. Bài học rút ra:
    - Mỗi người cần rèn luyện cho mình lòng kiên trì.
    - Khi gặp thất bại, hãy dũng cảm đối mặt, nỗ lực nhiều hơn cả những gì cần thiết để
    vượt qua.
    - Hãy học hỏi từ những sai lầm và tiếp tục cố gắng.
    2. 4. Phản biện, mở rộng vấn đề:
    - Phân biệt kiên trì với cố chấp.
    - Kiên trì cần đi kèm với sự thông minh, sáng tạo.
    - Luôn rút ra bài học kinh nghiệm để không lặp lại sai lầm. (không ngã hai lần trên
    cùng một mô đất)
    3. Hướng dẫn cho điểm:
    3. 1. Điểm 5– 6:
    Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:
    - Giải thích vấn đề (1 điểm):
    + Giới thiệu câu tục ngữ "Bảy lần vấp ngã, tám lần đứng dậy" đầy đủ, chính xác.
    + Giải thích ý nghĩa các hình ảnh ẩn dụ "vấp ngã", "đứng dậy" và số "bảy", "tám"
    một cách rõ ràng, sâu sắc.
    - Lí giải vấn đề (3 điểm):
    + Trình bày đầy đủ, logic các lý do cần kiên trì, nỗ lực trong cuộc sống:
    > Thất bại là điều không thể tránh khỏi.
    > Có những điều vượt quá khả năng hiện tại của bản thân.
    > Biến đổi ngoại cảnh và sự chủ quan dẫn đến thất bại.
    + Phân tích vai trò của kiên trì, nỗ lực:
    > Giúp sửa sai, cải thiện năng lực, vượt qua thử thách.
    > Rút ra bài học kinh nghiệm, tìm kiếm giải pháp.
    > Chờ đợi thời cơ thuận lợi.
    + Dẫn chứng minh họa cụ thể, tiêu biểu cho những người kiên trì, nỗ lực để thành
    công.
    - Bài học rút ra (1 điểm):

    + Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện lòng kiên trì.
    + Nêu rõ cách đối mặt và vượt qua thất bại: dũng cảm, nỗ lực, học hỏi.
    - Phản biện, mở rộng vấn đề (1 điểm):
    + Phân biệt rõ ràng kiên trì và cố chấp.
    + Khẳng định tầm quan trọng của sự thông minh, sáng tạo khi kiên trì.
    + Nhắc nhở rút ra bài học để tránh lặp lại sai lầm.
    3.2. Điểm 4– 5:
    Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của mức điểm 10 nhưng có một số hạn chế nhỏ:
    - Giải thích chưa đầy đủ, chưa sâu sắc.
    - Lí giải chưa logic, dẫn chứng chưa tiêu biểu.
    - Bài học rút ra chưa cụ thể.
    - Phân biệt kiên trì và cố chấp chưa rõ ràng.
    3.3. Điểm 3 – 4:
    Đáp ứng cơ bản các yêu cầu của đề bài:
    - Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ.
    - Nêu lý do cần kiên trì, nỗ lực.
    - Bài học rút ra về việc rèn luyện lòng kiên trì.
    - Phân biệt kiên trì và cố chấp.
    - Tuy nhiên, trình bày còn thiếu logic, dẫn chứng chưa cụ thể, chưa có sự sáng tạo.
    3.4. Điểm 2 – 3:
    Đáp ứng một số yêu cầu cơ bản của đề bài:
    - Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ.
    - Nêu một số lý do cần kiên trì, nỗ lực.
    - Bài học rút ra về tầm quan trọng của kiên trì.
    Tuy nhiên, trình bày còn sơ sài, thiếu dẫn chứng, thiếu sự phân tích, lập luận.
    3.5. Điểm 1 - 2:
    Chỉ đáp ứng được một vài yêu cầu cơ bản của đề bài:
    - Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ.
    - Nêu một lý do cần kiên trì, nỗ lực.
    - Bài học rút ra về việc rèn luyện lòng kiên trì.
    Trình bày còn rất hạn chế, thiếu logic, thiếu dẫn chứng.
    3.6. Điểm 0:
    Không đáp ứng được yêu cầu của đề bài.
    Lưu ý:
    - Đáp án trên được thiết lập chi tiết để thuận tiện cho người chấm trong việc cụ
    thể hoá thang điể. Tuy nhiên, đó không phải là đáp án duy nhất.
    - Học sinh có thể trả lời và giải quyết vấn đề theo cách riêng miễn là có lí và phù
    hợp với tính chất khách quan của vấn đề. Trong trường hợp này, người chấm cần căn
    cứ vào bài làm thực tế của học sinh để cụ thể hoá thang điểm.
    - Khuyến khích những bài viết có cách tiếp cận vấn đề độc đáo, sáng tạo.
     
    Gửi ý kiến