Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục Phú Yên.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
KTCK 11 ( Tự luận)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lệ Tuyến
Ngày gửi: 19h:44' 10-12-2023
Dung lượng: 36.4 KB
Số lượt tải: 114
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lệ Tuyến
Ngày gửi: 19h:44' 10-12-2023
Dung lượng: 36.4 KB
Số lượt tải: 114
Số lượt thích:
0 người
SỞ GD&ĐT
KIỂM TRA CUỐI KÌ I, NĂM HỌC 2023- 2024
Môn: Ngữ văn, lớp 11
TRƯỜNG THPT
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
TT
Kĩ
năng
Mức độ nhận thức
Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ năng Nhận Thông
biết
hiểu
Vận
dụng
1
Đọc
Tùy bút, tản văn
(Văn bản ngoài SSG)
2
2
1
2
Viết
Viết văn bản nghị luận về một vấn đề
xã hội
1*
1*
1*
Tổng
Tỉ lệ%
25% 45%
70%
Vận
dụng
cao
Tỉ lệ
1
60
1*
40
20% 10%
30%
100
II. BẢN ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I (TỰ LUẬN)
MÔN NGỮ VĂN 11
THỜI GIAN: 90 PHÚT
TT
1
Kĩ
Đơn vị
năng kiến thức /
Kĩ năng
Đọc
hiểu
Tản văn
Mức độ đánh giá
Số lượng câu hỏi theo
mức độ nhận thức
Nhận
biết
Nhận biết:
- Nhận biết được đề tài, chủ
đề, cái tôi trữ tình văn bản.
- Nhận biết được các chi tiết
tiêu biểu.
Thông hiểu:
- Phân tích được sự kết hợp
giữa cốt tự sự và chất trữ tình;
giữa hư cấu và phi hư cấu
trong văn bản.
2 TL
Thông Vận Vận
hiểu
dụng dụng
cao
Tổng
%
60
- Phân tích, lí giải được tình
cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ
đạo của người viết thể hiện
qua văn bản; phát hiện và lí
giải được các giá trị văn hóa,
triết lí nhân sinh của văn bản.
2 TL
Vận dụng:
1TL
- Nêu được ý nghĩa hay tác
động của văn bản tới quan
niệm của bản thân về cuộc
sống hoặc văn học.
1TL
Vận dụng cao:
- Đánh giá được ý nghĩa hay
tác động của văn bản đối với
quan niệm của bản thân về
văn học và cuộc sống. Đặt tác
phẩm trong bối cảnh sáng tác
và bối cảnh hiện tại để đánh
giá ý nghĩa, giá trị của tác
phẩm.
2
Viết
Viết
văn
bản
ghị
luận về một
vấn đề xã
hội
Nhận biết:
- Xác định được yêu cầu về
nội dung và hình thức của bài
văn nghị luận.
- Mô tả được vấn đề xã hội và
những dấu hiệu, biểu hiện của
vấn đề xã hội trong bài viết.
- Xác định rõ được mục đích,
đối tượng nghị luận.
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục
của một văn bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được những khái
niệm liên quan đến vấn đề
nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và
hệ thống các luận điểm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng để tạo tính chặt chẽ,
1*
1*
1*
1
TL
40
logic của mỗi luận điểm.
- Cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu
và kết thúc gây ấn tượng; sử
dụng các lí lẽ và bằng chứng
thuyết phục, chính xác, tin
cậy, thích hợp, đầy đủ; đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp
tiếng Việt.
Vận dụng:
- Đánh giá được ý nghĩa, ảnh
hưởng của vấn đề đối với con
người, xã hội.
- Nêu được những bài học,
những đề nghị, khuyến nghị
rút ra từ vấn đề bàn luận.
Vận dụng cao:
- Sử dụng kết hợp các phương
thức nghị luận, biểu cảm, tự
sự,… để tăng sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những
kiến thức tiếng Việt lớp 11 để
tăng tính thuyết phục, sức hấp
dẫn cho bài viết.
Tổng
Tỉ lệ %
25%
45%
70 %
20
10
%
%
30%
100
III. ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2023- 2024
TRƯỜNG THPT
Họ tên: ………………………… Lớp: ……
SBD: ………Phòng: …. …Mã đề: …….…
(Đề có 02 trang)
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KỲ I NĂM HỌC 2023- 2024
Môn: Ngữ Văn
Khối: 11
Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)
Học sinh làm bài trên giấy làm bài
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới :
[…]
ĐÀ LẠT VÀ TÔI
(Chu Văn Sơn)
Với những người yêu, Đà Lạt là xứ tình. Cái mát mẻ thiên phú làm cho cỏ cây non nước chốn
này thảy đều gợi cảm, gợi tình. Đà Lạt khác nào một vườn địa đàng được tạo riêng cho những cặp
uyên ương. Huyền thoại tình yêu ngày ngày vẫn vẽ lại thiên nhiên xứ sở. Cái ngọn núi cao nhất Đà
Lạt là Langbiang vốn mang trong nó truyền thuyết về một tình yêu bất tử. Ngày đêm từ cao vời dõi
trông xứ sở, hẳn Langbiang đã thành vị thần bảo trợ đất này. Uy của thần đã khiến các thắng cảnh kì
thú nhất nơi đây kết nối với nhau chung tay biến Đà Lạt thành cõi tình. Một cõi tình luôn để ngỏ
mời mọc mọi lứa đôi.
Cứ thế tạo vật được design theo bản đồ tình yêu. Hay tình yêu tự lập bản đồ cho tạo vật theo ý
mình? Chả biết, chỉ biết lần theo những địa danh nổi tiếng xứ này, người ta như bị dẫn dụ vào non
nước của ái tình : Thung lũng tình yêu, Đồi Mộng mơ, Thác Cam ly, Hồ xuân hương, Hồ Tuyền
Lâm, Hồ Than thở, Đồi thông hai mộ… Còn từng địa danh thì ngập trong thế giới của hoa yêu: dã
quỳ, mimosa, foget me not, hoa đào, hoa hồng, lay ơn, bất tử…
Chỉ sau hơn một giờ bay, từ chốn phồn tạp, những người yêu đã hạ cánh xuống địa đàng.
Uyên ương hẹn hò lên đây như lên chốn Thiên Thai. Phu thê tìm đến đây như tìm về vườn Eden cho
tuần trăng mật. Người vội đánh mất quãng son trẻ tìm về đây mong một dịp tái son, truy lĩnh chút
nào phần lãng mạn thất thoát. Người tơi tả những vết thương sâu tìm về đây với hi vọng được băng
bó, rịt lành. Người thất lạc nhau trong quãng đời trước lặn lội về đây để trao nhau những gì chưa kịp
trao, nhận những gì chưa kịp nhận, như một đền bù muộn.
Ai cũng mong tìm ở xứ sương rơi này một chút lãng quên, xin mây mưa chút vui vầy và nghe
từ thông xanh một lời độ lượng khi nhịp tim đập loạn. Rồi thì về lại đời mình sống tiếp phận mình.
Đà Lạt bí mật mở những Khau Vai, những hội chen Nga Hoàng, Giã La cho dân gian. Cùng với cái
mát mẻ ôn đới, đây chính là nét quyến rũ mà Tuần Châu, Cát Bà, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu,
Phú Quốc không thể có được, thậm chí Tam Đảo, Sa Pa, Bà Nà cũng không sánh được.
Bao kẻ yêu cứ thế đổ bộ xuống Đà Lạt. Nhưng khốn nỗi, thời gian ở cõi yêu bao giờ chẳng
trôi nhanh. Trăng mật bao giờ chẳng ngắn. Vài ngày trôi qua chóng vánh, làm sao đủ thỏa lòng
nhau. Với những tái hồi muộn, đôi khi, đến bên nhau rồi, gần nhau là thế, nhưng chắc gì đã có thể tỏ
bày. Biết đâu lại chẳng ngọng nghịu, khờ khạo, chẳng dấm dớ, vu vơ như cái thuở não nào… Rồi lại
giã từ, về lại phận mình mà chưa kịp trao gửi nhau bất cứ điều gì. Háo hức mang đến lại lủi thủi
mang về.
Nhưng, dù sao Đà Lạt vẫn là một cơ hội vàng. Bay cùng tôi trong chuyến bay này, có bao
nhiêu trái tim đang hồi hộp trong những lồng ngực có vẻ điềm nhiên kia? Làm sao tôi biết rõ. Riêng
anh bạn đi cùng chuyến tập huấn với tôi đây, thì ngay từ lúc kéo va li vào check in đã khó điềm
nhiên rồi. Ba ngày nữa vợ anh cũng sẽ bay vào. Họ đã chọn Đà Lạt cho sự kiện mong chờ: sinh nhật
vợ và 20 năm ngày cưới. Dù trước đó họ vừa có một kì cuối tuần Phú Quốc, và ngày tròn của con số
20 thực ra còn ở tháng sau.
Nhưng, chả cản trở gì. Kỉ niệm như thế phải thuộc về Đà Lạt thôi. Họ sẽ cùng lượn xe đạp đôi
ven Thung lũng tình yêu và những gương hồ Đà Lạt, sẽ lượn trên những con dốc mềm qua các vườn
hoa, quầy hoa đẹp nhất, rồi sẽ cùng lên đỉnh Langbiang… Ba ngày nữa, chiếc xe đạp đôi nào dưới
kia sẽ có may mắn được chọn, loài hoa nào, bông hoa nào sẽ gặp hên đây?… Hèn chi mà chẳng bồn
chồn? Phần mình, đến Đà Lạt lần này, dù biết không còn trẻ, tôi vẫn mong có những hồi hộp như
thế!
Những hồi hộp sẽ thì thầm bên tai rằng đời chưa phải đã hết, dù mất mát rụng rơi vẫn có cơ tìm lại,
những ngày Đà Lạt này sẽ vẫn là những ngày đôi lứa, như thuở mới yêu, thuở chưa đắng cay gì.
Bên cửa sổ máy bay, tôi miên man nghĩ tới những bông hoa Đà Lạt, ở dưới xứ thông kia có sắc hoa
nào ứng với tôi không? có bông hoa nào sẵn lòng chia sẻ với tôi không?
[…]
(Trích Đà Lạt và tôi- Chu Văn Sơn, Theo Vanvn.net)
Câu 1. Xác định đề tài của đoạn trích trên . (0, 75 điểm)
Câu 2. Cái tôi của tác giả được thể hiện như thế nào trong văn bản? ( 0,75)
Câu 3. Những đặc điểm nào của Đà Lạt được tác giả nói tới trong đoạn (1,5)
Câu 4. Sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn văn sau có tác dụng? ( 1.5 điểm)
“ Những hồi hộp sẽ thì thầm bên tai rằng đời chưa phải đã hết, dù mất mát rụng rơi vẫn có cơ tìm
lại, những ngày Đà Lạt này sẽ vẫn là những ngày đôi lứa, như thuở mới yêu, thuở chưa đắng cay
gì. Bên cửa sổ máy bay, tôi miên man nghĩ tới những bông hoa Đà Lạt, ở dưới xứ thông kia có sắc
hoa nào ứng với tôi không? có bông hoa nào sẵn lòng chia sẻ với tôi không?”
Câu 5. Anh / chị có đồng ý với nhận định “ Đà Lạt là bản đồ tình yêu ” ? Tại sao ?
(1.0 điểm)
Câu 6 . Bạn rút ra được thông điệp gì cho bản thân sau khi đọc đoạn trích trên? (0.5
điểm)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận xã hội bàn về vai trò của lẽ sống đẹp
đối với giới trẻ hiện nay.
---------------------HẾT-------------------Học sinh không được sử dụng tài liệu. Giáo viên coi kiểm tra không giải thích gì thêm.
Câu
SỞ GD&ĐT
TRƯỜNG THPT
(Đáp án, hướng dẫn chấm có 02trang)
Phần
I.
1
ĐỌC
HIỂU 2
3
4
Nội dung HƯỚNG DẪN CHẤM
Điểm
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
NĂM HỌC 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN 11
Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề
6.0
Đà Lạt xứ sở của tình yêu
- Ngợi ca vẻ đẹp phong phú, sức hấp cùng tình yêu say đắm đối với Đà Lạt.
- Thể hiện qua cảm nhận tinh tế và cách biểu đạt giàu tính sáng tạo, thẩm mĩ
về vẻ đẹp của Đà Lạt
0,75
-Đà Lạt là xứ tình.
-Không khí mát mẻ
- Thiên nhiên hữu tình
- Ngọn núi Langbiang huyền thoại
- Bày tỏ những kỉ niệm và khao khát được trở về với Đà Lạt để nhận những gì
chưa kịp nhận.
- Thể hiện ngợi ca vẻ đẹp phong phú, sức hấp cùng tình yêu say đắm đối với
Đà Lạt
-Thể hiện qua cái nhìn sắc sảo, cảm xúc bâng khuâng, lãng mạn khi viết về vẻ
đẹp Đà Lạt
1. 5
- Đồng ý,- Vì :
0.75
1.5
1,00
+ Đà Lạt là cõi tình. Một cõi tình luôn để ngỏ mời mọc mọi lứa đôi. Có những
địa danh dẫn dụ người ta vào non nước của ái tình và ngập trong thế giới của
hoa yêu
5
+ Có Langbiang, ngọn núi cao nhất, vốn mang trong nó truyền thuyết về một
tình yêu bất tử.
Học sinh được tự do rút ra thông điệp, miễn là tích cực và có liên quan
đến nội dung của văn bản.
6
II.
VIẾT
0,50
Tham khảo: Phải biết cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của Đà Lạt nói
riêng và đất nước Việt Nam nói chung.
*Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều
cách miễn hợp lí là chấp nhận được.
Viết một bài văn với chủ đề: vai trò của lẽ sống đẹp cho giới trẻ ngày nay
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức bài văn
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vai trò của lẽ sống đẹp
c. Triển khai vấn đề cần nghị luận.
Học sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận theo nhiều
cách nhưng cần làm rõ
4,00
0,50
0,50
2,00
Có thể theo hướng sau:
- Giải thích được lẽ sống đẹp là gì (tuân theo các chuẩn mực đạo đức pháp luật, phát huy được năng
lực sở trường của bản thân, sống nhân hậu, sống có ích,..)
- Bàn luận được về vai trò, giá trị của lẽ sống đẹp:
+ Sống đẹp mang lại hạnh phúc cho bản thân và những điều tốt đẹp cho người thân, bạn bè,
đồng nghiệp, cộng đồng nói chung (dẫn chứng..)
+ Sống đẹp không đồng nghĩa với một cuộc sống giàu có dùng tiền bạc để làm từ thiện nhằm
đánh bóng tên tuổi , hay một cuộc sống nổi tiếng mà tai tiếng,... (dẫn chứng..)
- Rút ra được bài học cho bản thân – làm thế nào để hình thành nếp sống đẹp
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, có suy nghĩ riêng sâu sắc về vấn đề nghị luận nhưng cần phù hợp
với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.
TỔNG ĐIỂM
---------------------------------------HẾT---------------------------------------
0,50
0,50
10,00
KIỂM TRA CUỐI KÌ I, NĂM HỌC 2023- 2024
Môn: Ngữ văn, lớp 11
TRƯỜNG THPT
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I MÔN NGỮ VĂN LỚP 11
TT
Kĩ
năng
Mức độ nhận thức
Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ năng Nhận Thông
biết
hiểu
Vận
dụng
1
Đọc
Tùy bút, tản văn
(Văn bản ngoài SSG)
2
2
1
2
Viết
Viết văn bản nghị luận về một vấn đề
xã hội
1*
1*
1*
Tổng
Tỉ lệ%
25% 45%
70%
Vận
dụng
cao
Tỉ lệ
1
60
1*
40
20% 10%
30%
100
II. BẢN ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ I (TỰ LUẬN)
MÔN NGỮ VĂN 11
THỜI GIAN: 90 PHÚT
TT
1
Kĩ
Đơn vị
năng kiến thức /
Kĩ năng
Đọc
hiểu
Tản văn
Mức độ đánh giá
Số lượng câu hỏi theo
mức độ nhận thức
Nhận
biết
Nhận biết:
- Nhận biết được đề tài, chủ
đề, cái tôi trữ tình văn bản.
- Nhận biết được các chi tiết
tiêu biểu.
Thông hiểu:
- Phân tích được sự kết hợp
giữa cốt tự sự và chất trữ tình;
giữa hư cấu và phi hư cấu
trong văn bản.
2 TL
Thông Vận Vận
hiểu
dụng dụng
cao
Tổng
%
60
- Phân tích, lí giải được tình
cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ
đạo của người viết thể hiện
qua văn bản; phát hiện và lí
giải được các giá trị văn hóa,
triết lí nhân sinh của văn bản.
2 TL
Vận dụng:
1TL
- Nêu được ý nghĩa hay tác
động của văn bản tới quan
niệm của bản thân về cuộc
sống hoặc văn học.
1TL
Vận dụng cao:
- Đánh giá được ý nghĩa hay
tác động của văn bản đối với
quan niệm của bản thân về
văn học và cuộc sống. Đặt tác
phẩm trong bối cảnh sáng tác
và bối cảnh hiện tại để đánh
giá ý nghĩa, giá trị của tác
phẩm.
2
Viết
Viết
văn
bản
ghị
luận về một
vấn đề xã
hội
Nhận biết:
- Xác định được yêu cầu về
nội dung và hình thức của bài
văn nghị luận.
- Mô tả được vấn đề xã hội và
những dấu hiệu, biểu hiện của
vấn đề xã hội trong bài viết.
- Xác định rõ được mục đích,
đối tượng nghị luận.
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục
của một văn bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được những khái
niệm liên quan đến vấn đề
nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và
hệ thống các luận điểm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng để tạo tính chặt chẽ,
1*
1*
1*
1
TL
40
logic của mỗi luận điểm.
- Cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu
và kết thúc gây ấn tượng; sử
dụng các lí lẽ và bằng chứng
thuyết phục, chính xác, tin
cậy, thích hợp, đầy đủ; đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp
tiếng Việt.
Vận dụng:
- Đánh giá được ý nghĩa, ảnh
hưởng của vấn đề đối với con
người, xã hội.
- Nêu được những bài học,
những đề nghị, khuyến nghị
rút ra từ vấn đề bàn luận.
Vận dụng cao:
- Sử dụng kết hợp các phương
thức nghị luận, biểu cảm, tự
sự,… để tăng sức thuyết phục
cho bài viết.
- Vận dụng hiệu quả những
kiến thức tiếng Việt lớp 11 để
tăng tính thuyết phục, sức hấp
dẫn cho bài viết.
Tổng
Tỉ lệ %
25%
45%
70 %
20
10
%
%
30%
100
III. ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I, NĂM HỌC 2023- 2024
TRƯỜNG THPT
Họ tên: ………………………… Lớp: ……
SBD: ………Phòng: …. …Mã đề: …….…
(Đề có 02 trang)
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KỲ I NĂM HỌC 2023- 2024
Môn: Ngữ Văn
Khối: 11
Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề)
Học sinh làm bài trên giấy làm bài
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới :
[…]
ĐÀ LẠT VÀ TÔI
(Chu Văn Sơn)
Với những người yêu, Đà Lạt là xứ tình. Cái mát mẻ thiên phú làm cho cỏ cây non nước chốn
này thảy đều gợi cảm, gợi tình. Đà Lạt khác nào một vườn địa đàng được tạo riêng cho những cặp
uyên ương. Huyền thoại tình yêu ngày ngày vẫn vẽ lại thiên nhiên xứ sở. Cái ngọn núi cao nhất Đà
Lạt là Langbiang vốn mang trong nó truyền thuyết về một tình yêu bất tử. Ngày đêm từ cao vời dõi
trông xứ sở, hẳn Langbiang đã thành vị thần bảo trợ đất này. Uy của thần đã khiến các thắng cảnh kì
thú nhất nơi đây kết nối với nhau chung tay biến Đà Lạt thành cõi tình. Một cõi tình luôn để ngỏ
mời mọc mọi lứa đôi.
Cứ thế tạo vật được design theo bản đồ tình yêu. Hay tình yêu tự lập bản đồ cho tạo vật theo ý
mình? Chả biết, chỉ biết lần theo những địa danh nổi tiếng xứ này, người ta như bị dẫn dụ vào non
nước của ái tình : Thung lũng tình yêu, Đồi Mộng mơ, Thác Cam ly, Hồ xuân hương, Hồ Tuyền
Lâm, Hồ Than thở, Đồi thông hai mộ… Còn từng địa danh thì ngập trong thế giới của hoa yêu: dã
quỳ, mimosa, foget me not, hoa đào, hoa hồng, lay ơn, bất tử…
Chỉ sau hơn một giờ bay, từ chốn phồn tạp, những người yêu đã hạ cánh xuống địa đàng.
Uyên ương hẹn hò lên đây như lên chốn Thiên Thai. Phu thê tìm đến đây như tìm về vườn Eden cho
tuần trăng mật. Người vội đánh mất quãng son trẻ tìm về đây mong một dịp tái son, truy lĩnh chút
nào phần lãng mạn thất thoát. Người tơi tả những vết thương sâu tìm về đây với hi vọng được băng
bó, rịt lành. Người thất lạc nhau trong quãng đời trước lặn lội về đây để trao nhau những gì chưa kịp
trao, nhận những gì chưa kịp nhận, như một đền bù muộn.
Ai cũng mong tìm ở xứ sương rơi này một chút lãng quên, xin mây mưa chút vui vầy và nghe
từ thông xanh một lời độ lượng khi nhịp tim đập loạn. Rồi thì về lại đời mình sống tiếp phận mình.
Đà Lạt bí mật mở những Khau Vai, những hội chen Nga Hoàng, Giã La cho dân gian. Cùng với cái
mát mẻ ôn đới, đây chính là nét quyến rũ mà Tuần Châu, Cát Bà, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu,
Phú Quốc không thể có được, thậm chí Tam Đảo, Sa Pa, Bà Nà cũng không sánh được.
Bao kẻ yêu cứ thế đổ bộ xuống Đà Lạt. Nhưng khốn nỗi, thời gian ở cõi yêu bao giờ chẳng
trôi nhanh. Trăng mật bao giờ chẳng ngắn. Vài ngày trôi qua chóng vánh, làm sao đủ thỏa lòng
nhau. Với những tái hồi muộn, đôi khi, đến bên nhau rồi, gần nhau là thế, nhưng chắc gì đã có thể tỏ
bày. Biết đâu lại chẳng ngọng nghịu, khờ khạo, chẳng dấm dớ, vu vơ như cái thuở não nào… Rồi lại
giã từ, về lại phận mình mà chưa kịp trao gửi nhau bất cứ điều gì. Háo hức mang đến lại lủi thủi
mang về.
Nhưng, dù sao Đà Lạt vẫn là một cơ hội vàng. Bay cùng tôi trong chuyến bay này, có bao
nhiêu trái tim đang hồi hộp trong những lồng ngực có vẻ điềm nhiên kia? Làm sao tôi biết rõ. Riêng
anh bạn đi cùng chuyến tập huấn với tôi đây, thì ngay từ lúc kéo va li vào check in đã khó điềm
nhiên rồi. Ba ngày nữa vợ anh cũng sẽ bay vào. Họ đã chọn Đà Lạt cho sự kiện mong chờ: sinh nhật
vợ và 20 năm ngày cưới. Dù trước đó họ vừa có một kì cuối tuần Phú Quốc, và ngày tròn của con số
20 thực ra còn ở tháng sau.
Nhưng, chả cản trở gì. Kỉ niệm như thế phải thuộc về Đà Lạt thôi. Họ sẽ cùng lượn xe đạp đôi
ven Thung lũng tình yêu và những gương hồ Đà Lạt, sẽ lượn trên những con dốc mềm qua các vườn
hoa, quầy hoa đẹp nhất, rồi sẽ cùng lên đỉnh Langbiang… Ba ngày nữa, chiếc xe đạp đôi nào dưới
kia sẽ có may mắn được chọn, loài hoa nào, bông hoa nào sẽ gặp hên đây?… Hèn chi mà chẳng bồn
chồn? Phần mình, đến Đà Lạt lần này, dù biết không còn trẻ, tôi vẫn mong có những hồi hộp như
thế!
Những hồi hộp sẽ thì thầm bên tai rằng đời chưa phải đã hết, dù mất mát rụng rơi vẫn có cơ tìm lại,
những ngày Đà Lạt này sẽ vẫn là những ngày đôi lứa, như thuở mới yêu, thuở chưa đắng cay gì.
Bên cửa sổ máy bay, tôi miên man nghĩ tới những bông hoa Đà Lạt, ở dưới xứ thông kia có sắc hoa
nào ứng với tôi không? có bông hoa nào sẵn lòng chia sẻ với tôi không?
[…]
(Trích Đà Lạt và tôi- Chu Văn Sơn, Theo Vanvn.net)
Câu 1. Xác định đề tài của đoạn trích trên . (0, 75 điểm)
Câu 2. Cái tôi của tác giả được thể hiện như thế nào trong văn bản? ( 0,75)
Câu 3. Những đặc điểm nào của Đà Lạt được tác giả nói tới trong đoạn (1,5)
Câu 4. Sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn văn sau có tác dụng? ( 1.5 điểm)
“ Những hồi hộp sẽ thì thầm bên tai rằng đời chưa phải đã hết, dù mất mát rụng rơi vẫn có cơ tìm
lại, những ngày Đà Lạt này sẽ vẫn là những ngày đôi lứa, như thuở mới yêu, thuở chưa đắng cay
gì. Bên cửa sổ máy bay, tôi miên man nghĩ tới những bông hoa Đà Lạt, ở dưới xứ thông kia có sắc
hoa nào ứng với tôi không? có bông hoa nào sẵn lòng chia sẻ với tôi không?”
Câu 5. Anh / chị có đồng ý với nhận định “ Đà Lạt là bản đồ tình yêu ” ? Tại sao ?
(1.0 điểm)
Câu 6 . Bạn rút ra được thông điệp gì cho bản thân sau khi đọc đoạn trích trên? (0.5
điểm)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận xã hội bàn về vai trò của lẽ sống đẹp
đối với giới trẻ hiện nay.
---------------------HẾT-------------------Học sinh không được sử dụng tài liệu. Giáo viên coi kiểm tra không giải thích gì thêm.
Câu
SỞ GD&ĐT
TRƯỜNG THPT
(Đáp án, hướng dẫn chấm có 02trang)
Phần
I.
1
ĐỌC
HIỂU 2
3
4
Nội dung HƯỚNG DẪN CHẤM
Điểm
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I
NĂM HỌC 2023 - 2024
MÔN: NGỮ VĂN 11
Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề
6.0
Đà Lạt xứ sở của tình yêu
- Ngợi ca vẻ đẹp phong phú, sức hấp cùng tình yêu say đắm đối với Đà Lạt.
- Thể hiện qua cảm nhận tinh tế và cách biểu đạt giàu tính sáng tạo, thẩm mĩ
về vẻ đẹp của Đà Lạt
0,75
-Đà Lạt là xứ tình.
-Không khí mát mẻ
- Thiên nhiên hữu tình
- Ngọn núi Langbiang huyền thoại
- Bày tỏ những kỉ niệm và khao khát được trở về với Đà Lạt để nhận những gì
chưa kịp nhận.
- Thể hiện ngợi ca vẻ đẹp phong phú, sức hấp cùng tình yêu say đắm đối với
Đà Lạt
-Thể hiện qua cái nhìn sắc sảo, cảm xúc bâng khuâng, lãng mạn khi viết về vẻ
đẹp Đà Lạt
1. 5
- Đồng ý,- Vì :
0.75
1.5
1,00
+ Đà Lạt là cõi tình. Một cõi tình luôn để ngỏ mời mọc mọi lứa đôi. Có những
địa danh dẫn dụ người ta vào non nước của ái tình và ngập trong thế giới của
hoa yêu
5
+ Có Langbiang, ngọn núi cao nhất, vốn mang trong nó truyền thuyết về một
tình yêu bất tử.
Học sinh được tự do rút ra thông điệp, miễn là tích cực và có liên quan
đến nội dung của văn bản.
6
II.
VIẾT
0,50
Tham khảo: Phải biết cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của Đà Lạt nói
riêng và đất nước Việt Nam nói chung.
*Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều
cách miễn hợp lí là chấp nhận được.
Viết một bài văn với chủ đề: vai trò của lẽ sống đẹp cho giới trẻ ngày nay
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức bài văn
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vai trò của lẽ sống đẹp
c. Triển khai vấn đề cần nghị luận.
Học sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận theo nhiều
cách nhưng cần làm rõ
4,00
0,50
0,50
2,00
Có thể theo hướng sau:
- Giải thích được lẽ sống đẹp là gì (tuân theo các chuẩn mực đạo đức pháp luật, phát huy được năng
lực sở trường của bản thân, sống nhân hậu, sống có ích,..)
- Bàn luận được về vai trò, giá trị của lẽ sống đẹp:
+ Sống đẹp mang lại hạnh phúc cho bản thân và những điều tốt đẹp cho người thân, bạn bè,
đồng nghiệp, cộng đồng nói chung (dẫn chứng..)
+ Sống đẹp không đồng nghĩa với một cuộc sống giàu có dùng tiền bạc để làm từ thiện nhằm
đánh bóng tên tuổi , hay một cuộc sống nổi tiếng mà tai tiếng,... (dẫn chứng..)
- Rút ra được bài học cho bản thân – làm thế nào để hình thành nếp sống đẹp
d. Sáng tạo
Có cách diễn đạt mới mẻ, có suy nghĩ riêng sâu sắc về vấn đề nghị luận nhưng cần phù hợp
với chuẩn mực đạo đức, pháp luật.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt.
TỔNG ĐIỂM
---------------------------------------HẾT---------------------------------------
0,50
0,50
10,00
 






Các ý kiến mới nhất